Nếu theo người dân cho biết. Vào cữ này hằng năm, cả vùng Đất Mũi này chỉ một mầu nước. Ngay khu rừng đước, cây cao ngất ngưởng tới hai, ba mươi mét mà nước cũng ngập lúp xúp tới ngang thân. Một vùng đất nửa bước là gặp sông, rạch, sình, lầy; cả bước là phải đi ghe, xuồng, bo bo. Nước là thứ gia tài giàu có nhất của con người vùng Đất Mũi. Cuộc sống dựa vào nước, trông chờ vào con tôm, con cá, con cua từ những mẻ đi giã cào hay từ đóng đăng, thả đó. Cái ăn chưa đủ nên cái chân phải đi kiếm cái ăn. Cái bụng chưa no nên cái đầu cũng phải nghĩ sao kiếm cho đầy bụng. Thời gian có được trong ngày chỉ nghĩ kiếm kế mưu sinh đã hết nên chuyện học hành có lẽ là thứ mà có muốn cũng trở thành sự lãng phí. Anh em cán bộ, chiến sĩ đồn BP cũng cho biết. Vào độ này hằng năm, mỗi tháng phải nạo phù sa đôi ba lần trên nền nhà, nền sân sau khi nước rút là “chuyện thường ngày vùng Đất Mũi”. Vì thế, cái sự học ở đây có được như hôm nay nó lớn lắm, nó phải ngang với chuyện bà Nữ Oa đội đá vá trời hay Ngu Công dời núi. Vào khoảng những năm 1990. Khi mấy anh em trong đội kiểm soát hành chính của Đồn BP Rạch Tầu, thuộc địa bàn xã Đất Mũi tiến hành kiểm tra đăng ký phương tiện đi biển. Sau khi đã kiểm tra, đăng kiểm xong, đưa cho các chủ phương tiện ký thì mấy bác cao tuổi xin cho mượn lọ mực. Tưởng các bác làm gì. Ai ngờ, các bác đưa luôn ngón tay vào chấm rồi lăn luôn lên cuốn sổ đăng ký phương tiện. Mấy người trẻ hơn, cứ gãi đầu gãi tai rồi đợi cho các bác cao niên làm xong, cũng chấm ngón tay vào lọ mực rồi điểm chỉ. Mấy cháu tuổi 13 – 14 thấy mấy chú bộ đội viết, ký vào sổ ngoay ngoáy, ngó nghiêng, có vẻ rất thích thú. Đợi ngày nước ròng, các tàu không đi biển, mấy anh em đi xuống thăm các gia đình. Khi đi các anh đem theo mấy cuốn họa báo. Khi đưa cho các em, thấy chỉ lật xem tranh rồi cấu chí nhau cười mà không hề biết đọc. Thậm chí có em còn cầm ngược cả tờ họa báo. Thấy lạ, mấy anh em mới nghĩ ra cách đưa bài toán đố để kiểm tra. Mấy cháu thấy thế, nhìn nhau, nhìn bộ đội rồi cười, túm tay nhau chạy khỏi nhà. Để có cơ sở báo cáo đồn, mấy anh em lại lần mò đi thống kê dân số và độ tuổi trong khu vực các ấp quanh trạm. Dân cư các ấp quanh trạm có tới 70% là người quê gốc Trà Vinh, Long An. Do mưu sinh, các gia đình đưa cả nhà vào đây lập nghiệp. Vì cuộc sống sông nước, đi biển nên hầu hết người dân không biết chữ, các cháu trong độ tuổi cũng không được đến trường. Sau khi đã thống kê, có số liệu cụ thể, mấy anh em xin ý kiến của chỉ huy cho mở lớp học tình thương. Mở lớp dạy chữ cho dân thì nhất trí. Không cần phải bàn. Nhưng lấy đâu ra lớp bây giờ, rồi ai là người đứng lớp trong khi công việc kiểm tra kiểm soát hành chính các phương tiện đâu có giờ giấc, phải trực 24/24 giờ. Nước lên thì đi, nước ròng thì về, mà đâu có phải đi cùng lúc, về cùng lúc. Rồi bao nhiêu chuyện ngoài khơi, ngoài lộng nữa. Nào là tàu gặp nạn, mắc cạn, xô xát tranh giành ngư trường, trộm cắp ngư cụ. Có nghĩa là, chỉ với thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao thì mấy anh em đã phải căng mình ra mới làm xong. Nhưng để tình trạng dân, khi có việc cứ lấy tay điểm chỉ, các văn bản thông báo quan trọng đến đâu cũng chỉ là tờ giấy lộn cũng không được. Các giải pháp được đưa ra song có một phương án được mọi người chấp nhận. Nhường toàn bộ trạm kiểm soát để làm lớp học. Công tác kiểm tra kiểm soát sẽ được tiến hành trực tiếp trên các phương tiện. Đối tượng học. Vô tư. Không phân độ tuổi. Ai muốn học. Xin mời. Đưa đón người học. Lấy chiếc xuồng ba lá của đồn làm phương tiện. Anh em có đến phiên tuần tra. Lội bộ. Tất cả cho lớp học đã. Cứ mở lớp. Khó đâu gỡ đấy. Sách giáo khoa chưa có. Cứ học. Cứ dạy. Dạy theo kinh nghiệm mà ngày trước đi học. Miễn sao, người dân biết đọc, biết viết cái đã. Để khi lên lớp, người học dễ nhận biết ngữ điệu ngôn ngữ khi nghe giảng, đồn tăng cường cho trạm đồng chí Cường, chiến sĩ, người trong tỉnh, đã học xong cấp 3 chịu trách nhiệm đứng lớp. Rồi lớp học cũng hình thành. Biết cơ man nào là khó khăn. Như mớ bòng bong gỡ từng mối một rồi mọi cái cũng dần đi vào nề nếp. Dân biết đọc, viết được tên mình lên cuốn sổ phương tiện vui không biết để đâu cho hết. Đúng lúc đó, cô Đàm Thu Hà được Sở Giáo dục đào tạo điều về xã làm giáo viên giảng dạy. Có người có chuyên môn, dạy có bài bản anh em trong đồn rất mừng. Lớp học là trạm kiểm soát được bàn giao lại cho xã để làm lớp học. Nơi tôi ngồi trò chuyện trao đổi với cô Hà chính là gian nhà của trạm kiểm soát xưa. Bốn bên nhà thưng tôn. Mái cũng lợp tôn. Những tấm tôn qua năm tháng cũng đã bắt đầu hoen gỉ. Chỉ có khác chăng, lớp học ở đây là các cháu lớp 5, còn các cháu lớp 1,2,3,4 thì chuyển vào trong khu điểm trường đang hoàn thiện. Tên điểm trường vẫn lấy tên Điểm trường đồn Biên phòng. Lại nói về chuyện cô giáo Đàm Thu Hà. Cô Hà người quê ở Cẩm Giàng, Hải Dương. Sau khi tốt nghiệp cấp 3, xem báo, nghe đài cô Hà thấy trẻ em ở trong này không được đến trường. Trong một lần gia đình cô có người chú đang công tác trong Xa quê, xa nhà, lạ nước lạ cái, làm cái gì cũng như mới. Tưởng thế là đã khổ nhưng nào đã hết. Đồng lương giáo viên thấp, giá cả lại đắt đỏ. Vùng đất này chỉ sẵn con cá, con tôm còn tất cả đều phải ra chợ. Ở quê, muốn ăn mớ rau, ra vườn, mươi mười lăm phút đã có cả rổ rau. Còn đây, đất phèn, nước lợ, không thể trồng được rau ăn. Muốn ăn mớ rau muống, giá cả đắt bốn năm lần ngày ở quê. Những ngày đó, tối đến khi học sinh về hết, còn một mình, nỗi nhớ nhà không để đâu cho hết. Muỗi ở đây lại nhiều. Tối, ngồi một mình, quơ tay có thể vơ được cả nắm muỗi. Nhiều đêm mắc màn, ngồi bên trong mà cô thấy nao lòng. Những khi như thế, cô Hà chỉ biết ngồi khóc một mình. Giá cả đắt đỏ, đồng lương chỉ đủ đảm bảo sinh hoạt cho cá nhân không đầy nửa tháng. Nhớ nhà mà không có tiền về thăm, đói mà không có tiền mua gạo. Những ngày đó, cô Hà đã có ý định xin nghỉ. Nhưng rồi cô thấy, nếu cô nghỉ dạy, các em học sinh sẽ lại rơi vào tình trạng làm cái gì, động chạm đến giấy tờ chữ nghĩa lại phải đi lên tận mấy xã trên nhờ người viết hộ rồi lại đưa tay vào lọ mực mà chấm điểm chỉ. Thấy cô Hà vất vả quá, cô Huỳnh Thị Thu, cũng làm giáo viên, có chồng làm lâm nghiệp nên đời sống cũng tàm tạm ổn, để giữ chân cô lại, cũng là cho có bạn có bè nơi vùng sâu, vùng xa nên đã phải nuôi cơm. Cứ thế, 2 chị em tằn tiện cố gắng đảm bảo sinh hoạt cá nhân để còn lên lớp. Cũng may ngày đó, vùng Đất Mũi, con ba khía, con vọp còn nhiều, chỉ cần lội vào rừng đước một lúc là đã có nồi canh, đồ ăn mặn. Một thời gian dài cô Hà được gia đình cô Thu nuôi cơm mặc dù là chỗ chị em cùng nghề nhưng cô Hà cũng thấy bất tiện. Hoàn cảnh của gia đình cô Thu cũng chủ yếu sống bằng đồng lương, cũng như cô nên cô nói với cô Thu xin được tự lo liệu cuộc sống. Và lúc này, gia đình cô Thu cũng đã có ý định chuyển ra nước ngoài sinh sống theo diện bảo lãnh. Mặc dù lòng muốn ở lại đây để dạy dỗ các cháu, song cô Hà cũng không biết được rồi mình sẽ trụ lại được bao nhiêu ngày. Cô chỉ nghĩ, cứ ở thêm được ngày nào hay ngày ấy. Thế rồi, khi cô Thu theo diện bảo lãnh ra nước ngoài sinh sống, cả vùng đất mũi chỉ còn lại có cô. Một lần đến thăm trường, bác Hai Đước, công tác trong Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, thấy cô Hà vất vả quá. Nếu cô mà cũng đi thì lũ trẻ trong ấp lại quay lại đường mù chữ. Bác Hai Đước mời cô sang nuôi chỉ mong cô ở lại. Khi cô không sang, bác Hai Đước cho người mang gạo sang để cô tự nấu. Biết được tấm lòng của bà con, biết sẽ còn nhiều vất vả nhưng rồi cô đã ở lại. Cũng lúc này, một số giáo viên cũng được Sở Giáo dục tăng cường về đây giảng dạy. Và rồi tình yêu đến. Mảnh đất tận cùng của Tổ quốc, nơi chỉ có nước và nước, mênh mông biển và bát ngát rừng đước đã mang đến cho cô niềm vui, cho cô hạnh phúc. Tình người, tình yêu đã cho cô chỗ dựa để đứng lớp, để vượt qua mọi khó khăn của công việc. Thấy mấy cô cậu học trò có vẻ nóng ruột chờ cô Hà cùng về. Tôi chia tay cô Hà vì sợ mấy cô trò về trời tối, đường đất sông rạch nhiều không an toàn. Men theo con đường mới đắp, tôi vào khu điểm trường đang được hoàn thiện. Khu đất xây điểm trường cũng nguyên là khu đất của Đồn BP Đất Mũi cắt ra để làm địa điểm xây dựng. Mấy dãy nhà đang vào khâu hoàn thiện cuối cùng. Nhìn theo mấy cô cậu học trò líu ríu, nhảy chân sáo, níu tay cô Hà khuất dần vào khu rừng đước. Hàng năm, vùng Đất Mũi được phù sa bồi đắp lấn ra biển ba bốn mươi mét. Đi cùng với những hạt phù sa bồi đắp là cây mắm rồi sau đó là cây đước bám rễ vào lòng bãi bồi để giữ đất, làm rừng. Bất chợt tôi nghĩ. Thiên nhiên đã mang đến cho Đất Mũi phù sa, cho vùng đất mãi mở về hướng biển. Những người lính biên phòng, những thầy cô giáo đã lặn lội về đây mở lớp, dựng trường từ những ngày xa xưa như mấy anh em trạm kiểm soát biên phòng, như chiến sĩ Cường, cô Đàm Thu Hà, cô Huỳnh Thị Thu hay cô Bùi Thị Nho, thầy Nguyễn Văn Nhuận và rất nhiều các thầy cô giáo bao năm nay đã gắn bó với nghiệp trồng người nơi Đất Mũi. Và cả những người như bác Hai Đước, sẵn sàng trích kinh tế gia đình chu cấp gạo, giữ chân giáo viên để có cái chữ cho con em trong ấp. Có phải chăng họ cũng là những “hạt phù sa đời” bồi đắp cho Đất Mũi những hạt phù sa để các thế hệ con người Đất Mũi tiến ra xa trong biển học vô bờ? Họ cũng là những hạt phù sa cho sự phát triển của Đất Mũi trong những cô cậu học trò nhảy chân sáo líu ríu vui đùa bên các thầy cô kia hay sao? Họ, những người gieo con chữ nơi vùng Đất Mũi chính là những hạt phù sa cho mai sau nơi tận cùng của Tổ quốc. Phạm Thanh Khương
Cô giáo Đàm Thu Hà và học sinh tại điểm trường trạm kiểm soát biên phòng trong giờ tập đọc. 
Điểm trường Đồn BP đang được hoàn thiện.
Các tin mới hơn:
Các tin đã đưa:
| Địa chỉ: 40A Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408 |
| Tổng biên tập: Nguyễn Hòa Văn |
Trăn trở vùng biên [10:38]
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
|
|
|
||||||||||||||
|
Bản quyền thuộc về BÁO BIÊN PHÒNG, giấy phép số 183/GP-BC cấp ngày 10-5-2007 Báo Biên phòng - Cơ quan của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Biên phòng Địa chỉ : 40A Hàng Bài - Hà Nội, điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408 e-mail: banthukybaobp@gmail.com |