Năm mới tính chuyện làm ăn ở 62 huyện nghèo

Nhiều người nói đùa một cách đầy hình ảnh rằng, năm 2009 là năm con trâu kéo đại dự án của Chính phủ lên phát triển 62 huyện nghèo nhất nước. Còn năm 2010  là năm con hổ,  sẽ có những sức bật lớn, tạo ra chuyển biến mạnh trong đời sống của người dân ở những vùng khó khăn. Song, vấn đề làm như thế nào để khỏi lặp lại điệp khúc ở các địa phương: “Dự án về, rồi dự án lại đi” đây là một câu chuyện rất nghiêm túc. Cần lắm một tư duy sản xuất mới ở những huyện nghèo.

BĐBP Quảng Bình đang giúp đồng bào trồng lúa nước ở bản Tân Ly, xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy.

Những dự án vì dân

Đến với đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, có thể thấy cảnh nghèo còn hiện diện khắp nơi. Có biết bao nhiêu công trình khoa học, dự án đổ vào những vùng khó khăn, nhưng rồi cuộc sống của đồng bào vẫn còn lắm cơ cực. Vì sao lại nghèo lâu thế? Bà con đang thiếu thực sự 4 từ: “Cách sản xuất mới”. Người ta thường hay nói “trao cần câu cơm” cho người dân. Biết chỗ, biết câu thì bỏ xuống cá cắn câu ngay. Còn có cần, có mồi rồi nhưng không biết câu thì ngồi cả ngày chẳng được con nào. Nếu như trong đại dự án phát triển 62 huyện nghèo nhất lần này, không hóa giải được 4 từ này, thì đồng bào ở những vùng này còn lâu mới phát triển khá được. Tôi xin đưa ra mấy câu chuyện cụ thể để “sáng tỏ vấn đề”:

Thứ nhất, đất nhiều mà vẫn đói. Tôi đi khắp các xã biên giới Dân Hóa, Trọng Hóa, Thượng Hóa, huyện Minh Hóa (nằm trong danh sách 62 huyện nghèo), tỉnh Quảng Bình, thấy đất đai dọc khe suối, xung quanh các bản đang ở còn để hoang rất nhiều. Trong khi đó, đồng bào phải mua từng bó rau cải nhỏ từ dưới đồng bằng chở lên bán với giá 2.000 - 3.000 đồng. Tôi hỏi ông Hồ Phin, Huyện ủy viên, Bí thư Đảng ủy xã Trọng Hóa: “Vì sao dân mình đói khổ mãi thế?”. Ông Phin đưa ra mấy lý do: Nhận thức của người dân chưa đầy đủ; khổ nhưng chưa chịu khó; địa hình đất đai núi dốc; đất có nhưng chưa biết canh tác. Nói rồi, ông Bí thư thống kê trong sự buồn bã: “Ở Trọng Hóa, nhiều hộ dân phải ăn ngô trộn sắn vào các tháng 5, 6, 7. Tháng 10, 11, 12 và tháng 1, 2, 3 ăn sắn 100%. Giá gạo bán cao nhất tại Trọng Hóa là 15.000 đồng/1kg (loại gạo trung bình)”.

Thứ hai, “dự án về, rồi dự án lại đi”. Năm 2001, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình đầu tư mấy tỉ đồng làm dự án lúa nước tại bản Tân Ly, xã Lâm Thủy. Hoàn thành dự án, cán bộ rút về dưới đồng bằng, để lại bà con đồng bào tự “vận hành” hệ thống lúa nước hiện đại. Bà Hồ Thị Đài, bản Tân Ly kể cho chúng tôi nghe câu chuyện đáng suy ngẫm: “Xe của dự án chở phân bón lên nhiều lắm, phân phát mỗi nhà mấy bao. Ông Dự (Chủ tịch Hội nông dân xã Lâm Thủy) bón phân hột cả nắm dưới từng gốc lúa. Mấy ngày sau, lúa chết hết. Thế là dân trong bản sợ, không ai dám bón phân nữa, để cả chồng mấy bao, lâu ngày chảy ra nước hết”. Theo bà Đài dự án lúa nước này, chỉ một năm sau cũng “theo” cán bộ về xuôi. Năm 2009, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Quảng Bình “xin” tiếp quản đồng lau sậy, huy động cả tiểu đoàn cắm chốt làm lúa nước cho dân Tân Ly. Một tổ ở lại ruộng trực tiếp chăm sóc cây lúa đến khi nào lúa thu hoạch xong mới rút về. Hai vụ lúa đạt năng suất cao.

Thứ ba, cán bộ “sơ sài” trong vận động, tuyên truyền. Tôi gặp ông B Lan, xã A Xan, huyện Tây Giang, Quảng Nam khi ông đang trồng mấy cây quế. Ông B Lan tưởng tôi là cán bộ khuyến nông nên buột miệng nói: “Lần này, cán bộ có nói thì nói cho hết nghe, đừng giấu trong bụng mà đồng bào mình khổ”. Nghe vậy, tôi thắc mắc. Ông B Lan lý giải, cán bộ khuyến nông nói chuyện “không đầu không đuôi”, “nói như chỉ đạo không quân” đồng bào không hiểu cái gì cả. Vì sao bà con không hiểu? Vì trình độ của đồng bào có hạn, nhưng cách truyền đạt của cán bộ huyện, tỉnh xuống công tác chỉ dừng lại tại văn phòng UBND xã “đi lướt” cho mau để lên xe về.

Đâu là giải pháp căn cơ

Nguồn ngân sách quốc gia sẽ đầu tư các dự  án lớn: Trường học, trạm y tế, đường giao thông, hệ thống thủy lợi... tại 62 huyện nghèo, từ năm 2009 - 2020. Năm 2009, các tập đoàn, tổng công ty, đơn vị kinh tế đã cam kết hỗ trợ 1.600 tỉ đồng cho các huyện nghèo. Chính phủ còn có những chương trình xuất khẩu lao động, đào tạo nghề cho thanh niên v.v... Tất cả những “nguồn viện trợ này đều có giá trị với 62 huyện nghèo. Nhưng cái cần nhất và xuyên suốt nhất là làm sao đồng bào có “cách sản xuất mới”, để phát triển cuộc sống hiện tại và chuyển giao cho thế hệ sau. Chẳng hạn, có một số địa phương gần như đã “ăn” trọn các dự án của Nhà nước như: Nhà ở theo chương trình 134, đường - trường - trạm - thủy lợi theo chương trình 135 và nhiều hỗ trợ khác. Nhưng đồng bào vẫn thiếu gạo ăn trầm trọng. Hỏi hàng ngày ăn cái gì họ đều chỉ lên rừng nói: “Kiếm được gì thì ăn cái đó”. Theo chúng tôi, cần huy động thêm các trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm khoa học vào cuộc vì... chính những đơn vị này có một đội ngũ khoa học và máy móc hùng hậu. Mỗi chương trình, đề tài, công trình khoa học nghiên cứu cần được ứng dụng ngay vào thực tiễn. Người dân các huyện nghèo được hưởng lợi từ thành quả khoa học, từ đó nhân rộng ra trong cuộc sống. Còn các viện, trường thì có đất “dụng võ” với những tri thức của mình, viết thành luận án thạc sĩ, tiến sĩ mang đầy hơi thở của cuộc sống. Mỗi công trình khoa học triển khai ở các cụm dân cư, nếu như các trường, viện, trung tâm... hướng dẫn bà con thật kỹ những động tác, phương pháp sản xuất, canh tác, nuôi trồng  mới, giống như các nhà khoa học làm ở phòng thí nghiệm thì chắc chắn 4 từ “cách sản xuất mới” nhanh chóng “ở lại” cùng đồng bào.

Với trình độ của đồng bào ở các huyện nghèo, chúng ta không thể nào triển khai một cách ồ ạt, theo kiểu “đánh nhanh thắng nhanh”. Nguồn vốn của Nhà nước hay của doanh nghiệp đã đầu tư vào các huyện nghèo cần theo phương pháp “chậm - chắc”. Có những mô hình thực sự là “cầm tay chỉ việc”, người hướng dẫn phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm với bà con đến khi nào người dân tự làm được bài bản. Lúc đó, công trình mới kết thúc và quyết toán nghiệm thu, tránh tình trạng làm qua loa đại khái, nửa chừng đã kết thúc dự án, cán bộ về xuôi, dự án cũng theo cán bộ về luôn. Làm theo kiểu này, tiền của Nhà nước đổ vào nhiều nhưng nó cứ chảy xuống sông, xuống suối hết, người dân vẫn nghèo hoàn nghèo. Hàng năm, Chính phủ lại phải chở gạo đi cứu tế, cái vòng luẩn quẩn chưa có hồi kết.

Rồi chương trình dạy nghề cho thanh niên ở 62 huyện nghèo, các bộ, ngành đang triển khai, cách giảng dạy cần xác định theo từng địa phương cần cái gì? Không thể áp dụng giáo trình, kiến thức giảng dạy của bộ để thống nhất cho 62 huyện khác nhau vì: Các tỉnh miền núi phía Bắc con người, khí hậu, rừng núi, đất đai thổ nhưỡng khác với miền Trung, Tây Nguyên càng khác với đồng bằng sông Cửu Long.

Có tiền, có khoa học, có máy móc... rồi cũng chưa đủ. Cần lắm tấm lòng của cán bộ lãnh đạo các cấp, cán bộ dự án, doanh nhân... Phải thực sự chia sẻ trước cảnh đồng bào ở những vùng xa xôi đang ở những ngôi nhà dột nát, xiêu vẹo, ăn sắn, ngô thay cơm, trẻ em bị suy dinh dưỡng và thất học để một lòng một dạ thực thi nhiệm vụ bằng cả trái tim nóng của mình.

Hải Luận

Các tin mới hơn:

Các tin đã đưa:

THÔNG TIN TÒA SOẠN
Địa chỉ: 40A Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại : (04) 39364407
Fax: (04) 39364408
Tổng biên tập: Nguyễn Hòa Văn
  • W.Ru-ni - cầu thủ xấu trai nhất thế giới
  • Thực lực quân sự của quân đội một số nước Đông Nam Á
  • Vụ rò rỉ thông tin mật tồi tệ nhất trong lịch sử quân đội Mỹ
  • Người đúc pháo thần công mừng đại lễ
  • Không xa đâu Trường Sa...
  • Vài hồi ức về đạo diễn Phạm Văn Khoa và cha tôi, Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
  • Liều thuốc đặc trị “căn bệnh” di dịch cư tự do trên biên giới Nghệ An
  • Những điều chưa biết về vụ bắt giữ 28 bánh hê-rô-in trên đất nước Triệu voi
  • Đảng bộ BĐBP: Những đột phá quan trọng trong nhiệm kỳ 2005 - 2010
  • Chiến công nối tiếp chiến công...
  • Vị tiến sĩ gốc Việt và câu chuyện về những chú gấu bị “bạc đãi”
  • Nghề đan ngư cụ ở xứ Bồng Lưu
  • Có một bài học mang tên “Vinashin”
  • Tìm nước trong... đá
  • Chú trọng “dạy tại đầu bờ”

Trăn trở vùng biên [10:38]

Liên hệ quảng cáo     Sơ đồ Website   RSS     Liên kết Web  
Bản quyền thuộc về BÁO BIÊN PHÒNG, giấy phép số 183/GP-BC cấp ngày 10-5-2007
Báo Biên phòng - Cơ quan của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Biên phòng
Địa chỉ : 40A Hàng Bài - Hà Nội, điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408
e-mail: banthukybaobp@gmail.com
Powered by USS Corp |