Vượt biển

Đêm giao thừa Tết Mậu Thân năm 1968, có 4 chuyến tàu không số xuất phát từ miền Bắc chi viện vũ khí cho miền Nam. 4 chuyến tàu vào Cà Mau, Quảng Ngãi, Bình Định và Khánh Hòa, nhưng chỉ duy nhất có chuyến tàu đến Bình Định là cập bến an toàn. Ông Nguyễn Xuân Thơm, nguyên Thuyền phó chuyến tàu không số vào Quảng Ngãi Tết Mậu Thân năm ấy, đã kể lại về chuyến hải trình đầy gian nan và nhiều kỷ niệm này. 

1 chọi 20 

Chúng tôi xuất phát từ miền Bắc đúng vào đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968. Dù phải xa đất liền, xa người thân ngay trong những ngày tết nhưng anh em ai cũng động viên nhau phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng đã giao phó. Trên tàu gồm 17 anh em, trong đó có 1 thuyền trưởng, 2 thuyền phó và rất nhiều vũ khí.

Ông Nguyễn Xuân Thơm (đứng thứ hai, từ phải sang) cùng đồng đội tại Hải Phòng.

Sau 3 ngày lênh đênh trên biển, dưới “vỏ bọc” là tàu đánh cá của ngư dân, cuối cùng thì chúng tôi cũng tiếp cận với vùng biển thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Rạng sáng hôm ấy, khi chúng tôi còn cách đất liền 3 hải lý (khoảng 7km) thì gặp tàu địch. Trời tối đen như mực, tàu đã vào đến vùng biển có kiểm soát nên phải tắt hết đèn nhưng chúng vẫn phát hiện.

Hơn 20 tàu địch các loại bao vây, các loại súng tầm xa, tầm ngắn ngắm thẳng về phía chúng tôi nhả đạn. Lực lượng trên tàu đã mỏng, vũ khí trang bị cho anh em cũng không nhiều, chỉ có 1 khẩu DKZ 82 ly, 3 khẩu 12 ly 7 và một số súng ngắn. Ngoài những thợ máy phải làm nhiệm vụ dưới khoang tàu, tất cả chúng tôi đều có mặt trên boong để chiến đấu. 

Sau 15 phút, anh Tòng, y tá trên tàu chịu trách nhiệm lắp đạn cho khẩu DKZ trúng đạn hy sinh. Anh Ruệ, lái tàu bị bắn nằm ngay bên bánh lái. Một số anh em khác bị thương. Chúng tôi mím chặt môi, động viên nhau tiếp tục cầm cự. Tình hình lúc ấy rất nguy cấp. Pháo, súng từ những tàu địch ở xa nã thẳng vào tàu chúng tôi. Vừa lái tàu tránh pháo, vừa cầm súng chiến đấu… Tầm bắn gần đến mức mà mọi người không cần phải ngắm bắn, chỉ chĩa súng và bóp cò. 

“Không xong rồi”, tôi tự nhủ. Kiểu này, chỉ cần chúng áp sát hơn thì cả tàu sẽ thương vong, quan trọng hơn cả là toàn bộ số vũ khí chi viện cho Quảng Ngãi sẽ lọt vào tay giặc… Phải nghi binh, đánh lừa địch thôi!

Tôi liền tìm 2 quả khói mù (loại vũ khí khi sử dụng tạo khói mù đánh lạc hướng đối phương) và giật một quả ngay trên tàu. Khói mù mịt từ con tàu nhỏ lướt sóng trên biển tạo một vệt lớn trong đêm tối mịt mù. Bị đánh lạc hướng mất mấy chục phút, tàu địch liền bắn pháo sáng để tìm. Phát hiện ra chúng tôi, chúng tiếp tục bắn rát. Tôi giật tung quả khói mù thứ hai, thả xuống biển tiếp tục nghi binh và thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng lệnh cho tàu chạy thẳng vào bờ.

Lần này, chúng bị đánh lừa thật. Cách bờ chừng 300m tiếp cận một cồn cát, chúng tôi không đi nữa vì đang ở phía Nam của bờ biển, còn anh em nhận vũ khí lại đợi tàu ở phía Bắc. Thuyền trưởng liền chỉ huy anh em đưa vũ khí xuống tàu vào đất liền.

Còn lại 4 người, trong đó có anh thuyền trưởng và tôi ở lại để cài bộc phá phá hủy tàu - “Không thể để tàu lọt vào tay địch!”. Ngay lúc đó, 2 chiếc trực thăng của địch đã phát hiện ra chúng tôi và bắn dồn dập, tôi và anh Hào bị thương nhưng chúng tôi vẫn kịp gắn bộc phá và nhảy xuống biển. 

Trở về... 

Chỉ cách bờ 300m nhưng sao xa quá, bơi mãi vẫn không đến nơi - đó là suy nghĩ của anh em chúng tôi. Có lẽ là do mệt mỏi, do máu từ các vết thương trên thân thể làm chúng tôi đuối dần. Những cơn sóng cao ập đến, tôi đã bị lạc anh em của mình.

Vết thương sau lưng rỉ máu liên tục làm chân trái của tôi tê cứng không cử động được. Đã hai lần tôi bị sóng nhấn chìm nhưng rồi tôi lại cố gắng ngoi lên, để sống, để được gặp lại những đồng đội, người thân của mình. Tôi đã đuối lắm, phải cởi bỏ hết bộ quần áo dài đang mặc để khỏi vướng víu.

Một cơn sóng lớn sắp ập tới. Tôi có thể nghe được tiếng rú rít của nó từ xa… “Phải sống”, trong đầu tôi chỉ có hai từ ấy hiện lên khi cơn sóng hất tôi lên cao và đẩy tôi nằm sõng soài trên mặt cát.

Phải đến khi nghe tiếng con tàu thân yêu của chúng tôi nổ cách đấy mấy trăm mét, khi những cột khói và gỗ bay rào rào trùm lên người, tôi mới tỉnh giấc và lết vào một bụi cây. Pháo sáng của địch lia khắp bờ biển. Từ xa, tôi nghe văng vẳng tiếng súng dồn dập. Có lẽ, những đồng đội của tôi đang đối đầu với địch… 

Tôi cố lết sâu vào một ngôi làng phía bên trong bờ biển, tựa vào gốc cây, tôi chợt nhìn thấy bóng một người đang đứng nhìn tôi chằm chằm. Như bản năng, tôi lên đạn khẩu K59 và lần bước về phía trước. Đó là một bà cụ. Tôi đánh liều hỏi: “Cụ có thấy du kích ở gần đây không?”. Bà cụ chỉ ngay về phía đụn rơm: “Cậu ra đó nhanh lên”.

Tôi lết về phía cụ chỉ, chợt có một cô gái còn rất trẻ chạy ra dìu tôi đi sâu vào trong làng, đến thẳng trạm y tế tiền phương. Một cô gái trẻ khác đã băng vết thương cho tôi và đưa tôi cùng hai đồng đội xuống hầm tránh một trận càn lớn của địch sắp diễn ra… 

Suốt hơn một tháng trời sau đó, chúng tôi - 14 anh em còn sống của chuyến tàu mang số hiệu 43 xuất phát từ miền Bắc đúng giao thừa Tết Mậu Thân 1968 - đã sống trong tình thương yêu, đùm bọc của đồng bào Đức Phổ, Mộ Đức (Quảng Ngãi). Có những lần di chuyển cả ngày trời, các cô gái, chàng trai dân quân địa phương đã cõng chúng tôi vượt núi, băng rừng.

Còn nhớ, khi chúng tôi chuẩn bị vượt Trường Sơn trở lại miền Bắc, chính Phượng, Răng (hai cô dân quân cứu tôi trong đêm hôm ấy) đã chuẩn bị cho tất cả chúng tôi từ quần áo, võng, ba lô, tăng cho đến lương thực, thực phẩm để chúng tôi yên tâm lên đường…

Rời xa mảnh đất Quảng Ngãi còn ngổn ngang bởi chiến tranh, chúng tôi bịn rịn hẹn ngày gặp lại. Và sau đúng 100 ngày vượt Trường Sơn, vượt qua những cơn sốt rét rừng tưởng chừng quật ngã, chúng tôi đã có mặt ở Thủy Nguyên, Hải Phòng. Tất cả chúng tôi đã cùng ngồi lại chụp chung một tấm ảnh kỷ niệm của 14 thành viên còn sống sau chuyến đi gian nan, nghĩa tình ấy…

*** 

41 năm qua, trong đoàn chúng tôi, có 2 anh nữa đã hy sinh. Cứ mỗi khi đến dịp kỷ niệm ngày truyền thống tàu không số, chúng tôi lại ngồi với nhau để ôn những kỷ niệm. Những lần ấy, hầu như không thiếu Phượng, Răng. Cả hai cô dân quân cứu sống, chăm sóc chúng tôi ngày ấy, nay đã vào độ tuổi bà nội, bà ngoại và ở rất xa TP nhưng vẫn một lòng hướng về những người anh, người bạn trên chuyến tàu không số năm xưa, đã vượt biển, rẽ sóng, chi viện cho Quảng Ngãi thân thương… 

Theo SGGP

Các tin mới hơn:

Các tin đã đưa:

THÔNG TIN TÒA SOẠN
Địa chỉ: 40A Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại : (04) 39364407
Fax: (04) 39364408
Tổng biên tập: Nguyễn Hòa Văn
  • W.Ru-ni - cầu thủ xấu trai nhất thế giới
  • Thực lực quân sự của quân đội một số nước Đông Nam Á
  • Vụ rò rỉ thông tin mật tồi tệ nhất trong lịch sử quân đội Mỹ
  • Người đúc pháo thần công mừng đại lễ
  • Không xa đâu Trường Sa...
  • Vài hồi ức về đạo diễn Phạm Văn Khoa và cha tôi, Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
  • Liều thuốc đặc trị “căn bệnh” di dịch cư tự do trên biên giới Nghệ An
  • Những điều chưa biết về vụ bắt giữ 28 bánh hê-rô-in trên đất nước Triệu voi
  • Đảng bộ BĐBP: Những đột phá quan trọng trong nhiệm kỳ 2005 - 2010
  • Chiến công nối tiếp chiến công...
  • Vị tiến sĩ gốc Việt và câu chuyện về những chú gấu bị “bạc đãi”
  • Nghề đan ngư cụ ở xứ Bồng Lưu
  • Có một bài học mang tên “Vinashin”
  • Tìm nước trong... đá
  • Chú trọng “dạy tại đầu bờ”

Trăn trở vùng biên [10:38]

Liên hệ quảng cáo     Sơ đồ Website   RSS     Liên kết Web  
Bản quyền thuộc về BÁO BIÊN PHÒNG, giấy phép số 183/GP-BC cấp ngày 10-5-2007
Báo Biên phòng - Cơ quan của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Biên phòng
Địa chỉ : 40A Hàng Bài - Hà Nội, điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408
e-mail: banthukybaobp@gmail.com
Powered by USS Corp |